Thông tin điều hành Thông tin điều hành

Quản lý ngân sách Quản lý ngân sách

Quản lý giá Quản lý giá

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 3582

Đã truy cập : 43513120

Lịch sử phát triển của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh (Từ năm 1997 đến nay)

06/06/2018 14:00 Số lượt xem: 2860
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh được tái lập từ ngày 01/01/1997 (tách khỏi tỉnh Hà Bắc cũ); đây là sự kiện quan trọng đối với tỉnh Bắc Ninh nói chung và ngành Tài chính nói riêng, mở ra triển vọng lớn để Bắc Ninh phát triển toàn diện, bền vững, tập trung thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước.

Sở Tài chính Vật giá Bắc Ninh được thành lập tại Quyết định số 01/QĐ- UBND ngày 6/01/1997 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc thành lập các Sở, ngành và các Hội quần chúng.

Khi mới thành lập Sở có 32 công chức và người lao động.  Tổ chức bộ máy khi mới thành lập gồm: Lãnh đạo Sở gồm: Giám đốc và các Phó Giám đốc; các phòng thuộc Sở:  Văn phòng Sở;Thanh Tra; Phòng Kế hoạch Ngân sách; Phòng Tài chính - Hành chính sự nghiệp; Phòng Quản lý Công sản và Ban giá.

Quá trình phát triển:

     - Tháng 5/1997, tách Phòng Kế hoạch Ngân sách thành phòng Quản lý Ngân sách và Phòng Quản lý Ngân sách huyện xã thuộc Sở Tài chính – Vật giá.

    - Tháng 9/1999, thành lập Phòng Tài chính Doanh nghiệp trực thuộc Sở Tài chính- Vật giá tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tổ chức lại Phòng Quản lý vốn và Tài sản Nhà nước tại Doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh thuộc Cục Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại Doanh nghiệp Hà Bắc (trước đây).

    - Tháng 2/2000, thành lập phòng Đầu tư trực thuộc Sở Tài chính - Vật giá tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tiếp nhận nhiệm vụ và công chức của Cục đầu tư phát triển Hà Bắc (trước đây).

   - Tháng 10/2004, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 208/2003/QĐ-TTg về việc đổi tên Sở Tài chính - Vật giá thành Sở Tài chính thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

   - Tháng 3/2004, thành lập Trung tâm tư vấn, dịch vụ quản lý tài sản và bất động sản tỉnh Bắc Ninh trực thuộc Sở Tài chính.

   - Tháng  8/ 2004 giải thể phòng Quản lý công sản.

   - Tháng 8/2004, Sát nhập phòng Quản lý Ngân sách huyện xã vào phòng Quản lý Ngân sách.

   - Tháng 11/2004, thành lập phòng Tin học và Thống kê thuộc Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh.

   - Tháng 3/2006, thành lập phòng Pháp chế thuộc Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh.

   - Tháng 7/2009, giải thể phòng Pháp chế .

Đến nay ( 30.6.2019) số công chức, viên chức và người lao động thuộc Sở là: 74 người. Tổ chức bộ máy của Sở :Lãnh đạo Sở gồm: Giám đốc và các Phó Giám đốc; Văn phòng Sở; Thanh tra Sở; Phòng Quản lý Ngân sách; PhòngTài chính - Hành chính sự nghiệp; Phòng Đầu tư; Phòng Tài chính doanh Nghiệp;- Phòng Quản lý Giá; Phòng Tin học và Thống kê và 01 Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở: Trung tâm tư vấn dịch vụ quản lý tài chính & tài sản công.

Năm 1997, tỉnh Bắc Ninh được tái lập, khi đó tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (giá hiện hành) là 2.019 tỷ đồng; cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 44,7%, công nghiệp, xây dựng chiếm 24,4%, dịch vụ chiếm 30,9%. Với quy mô kinh tế nhỏ, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế nên nguồn thu ngân sách rất hạn chế, thu NSNN trên địa bàn năm 1997 là 198 tỷ đồng; chi ngân sách địa phương là 238 tỷ đồng; ngân sách Trung ương trợ cấp cân đối 135 tỷ đồng, chiếm 58% tổng chi.

Năm 2003, năm trước khi thực hiện Luật NSNN, thu NSNN trên địa bàn là 628 tỷ đồng; chi ngân sách địa phương là 811 tỷ đồng, ngân sách Trung ương trợ cấp cân đối 243 tỷ đồng, chiếm 30% tổng chi. Giai đoạn 1997 – 2003 thu ngân sách có tốc độ tăng bình quân là 26,5%/năm. Tốc độ tăng thu khá cao và ổn định là nhờ chính sách sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư đã thu hút được nhiều dự án hoạt động, kinh doanh ổn định, đóng góp số thu cho NSNN.

Năm 2007, kết thúc thời kỳ ổn định ngân sách 2004-2007 theo quy định của Luật NSNN, thu NSNN trên địa bàn là 1.844 tỷ đồng; chi ngân sách địa phương trong dự toán giao là 2.460 tỷ đồng, số ngân sách Trung ương trợ cấp cân đối là 172 tỷ đồng (7% tổng chi). Thời kỳ này thu ngân sách có tốc độ tăng bình quân là 30,9%/năm; quy định của Luật NSNN về giữ ổn định số bổ sung cân đối và tỷ lệ phần trăm phân chia số thu ngân sách đã tạo động lực cho các địa phương có các giải pháp phấn đấu tăng thu bổ sung nguồn lực chi đầu tư phát triển và thực hiện các chính sách đặc thù phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương.

 Năm 2010, kết thúc thời kỳ ổn định ngân sách 2007-2010, thu NSNN trên địa bàn là 6.099 tỷ đồng; chi ngân sách địa phương trong dự toán giao là 5.664 tỷ đồng, số ngân sách Trung ương trợ cấp cân đối là 293 tỷ đồng/năm (5,2% tổng chi). Thời kỳ này thu ngân sách có tốc độ tăng bình quân là 34,86%/năm do thu hải quan tăng nhanh, chính sách sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư của tỉnh tiếp tục thu hút được các dự án có đóng góp cao cho ngân sách.

Năm 2011, có số thu Ngân sách Nhà nước trên địa bàn là 7.214 tỷ, đây là năm đầu tiên tỉnh tự cân đối thu, chi ngân sách và có số thu điều tiết về Ngân sách trung ương là 7%.

Năm 2013, thực hiện phát hành trái phiếu địa phương. Đây là một dấu mốc quan trọng khẳng định sự nỗ lực cố gắng của ngành Tài chính trong việc huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Năm 2015, thu NSNN trên địa bàn là 14.300 tỷ đồng; chi ngân sách địa phương là 10.000 tỷ đồng. Thời kỳ này thu ngân sách có tốc độ tăng bình quân là 18,6%/năm.

Năm 2018, thu NSNN trên địa bàn  28.042 Tỷ đồng; Chi ngân sách địa phương là 17.432 tỷ đồng.