Thông tin điều hành Thông tin điều hành

Quản lý ngân sách Quản lý ngân sách

Quản lý giá Quản lý giá

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 5423

Đã truy cập : 43497421

Quy định mới về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

17/09/2019 07:51 Số lượt xem: 27

Ngày 05.9.2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2019/NĐ-CP về việc Quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Nghị định gồm 5 chương 64 điều; Nghị định quy định trình tự đầu tư, chuẩn bị đầu tư; các nội dung công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư; kết thúc đầu tư, đưa sản phẩn dự án vào khai thác sử dung; tổ chức quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin….

Theo đó,việc quản lý dự án ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với tính chất và nguồn vốn sử dụng, gồm: Đối với dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước, thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công và các quy định về quản lý chi phí, quản lý chất lượng tại Mục 2 Chương này; Đối với dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước, trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công và các quy định về quản lý chi phí, quản lý chất lượng tại Mục 3 Chương này.

Trường hợp dự án có sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin chưa sẵn có trên thị trường, nếu cần thiết, chủ đầu tư xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền để lựa chọn các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, đề xuất giải pháp, phương án kỹ thuật, công nghệ; xây dựng, thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ. Các tổ chức, cá nhân nói trên chịu mọi chi phí phát sinh (nếu có). Sau khi thử nghiệm thành công, xác định được giải pháp kỹ thuật, công nghệ, chi phí, chủ đầu tư tiến hành các thủ tục đầu tư theo quy định; Trường hợp dự án trong lĩnh vực khác có hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin, việc quản lý chi phí, quản lý chất lượng hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin đó thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

Nghị định cũng quy định thời hạn tối thiểu bảo hành sản phẩm của dự án được tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu bàn giao, đưa sản phẩm hoặc hạng mục công việc của dự án vào khai thác, sử dụng, cụ thể:Thời gian bảo hành 24 tháng với sản phẩm của dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A. Đối với sản phẩm của dự án nhóm B, C thời hạn bảo hành là 12 tháng. Mức tiền bảo hành tối thiểu được tính bằng tỷ lệ % giá trị sản phẩm của dự án, tương ứng 03% đối với sản phẩm có thời hạn bảo hành 24 tháng và 05% đối với dự án có thời hạn bảo hành 12 tháng.

Nhà thầu có trách nhiệm nộp thư bảo lãnh của ngân hàng có giá trị tương đương cho chủ đầu tư hoặc các hình thức khác được chủ đầu tư chấp nhận. Nhà thầu chỉ được hoàn trả bảo lãnh sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành.

 Nghị định này thay thế Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 06.11.2009 của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và bãi bỏ Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg ngày 30.12.2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định thí điểm về thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước.

 Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2020.( Kèm theo Nghị định 73/2019/NĐ-CP)

Văn phòng Sở