Tháng 2/2026, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tỉnh Bắc Ninh tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, mặc dù có xu hướng giảm nhẹ về mặt quy mô so với tháng 1 do yếu tố mùa vụ (Tết Nguyên đán).
Tháng 02, trùng vào Tết Nguyên đán năm 2026, hơn nữa số ngày của tháng 02 ít hơn số ngày của tháng 01 nên chỉ số IIP của tỉnh có sự sụt giảm đáng kể so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng tháng năm trước vẫn tăng 2,54% phản ánh mức tăng trưởng kinh tế ổn định của tỉnh. Ngành sản xuất điện tử vẫn là ngành sản xuất đầu tàu, chiếm tỷ trọng lớn và duy trì mức tăng trưởng ấn tượng.
Về chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP):
So với tháng trước: Chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp ước giảm 23,56%, trong đó: Ngành khai khoáng ước giảm 53,18%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 23,61%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí ước giảm 12,06%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước giảm 12,52%.
So với cùng tháng năm trước: Chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp tăng 2,54%, trong đó: Ngành khai khoáng ước giảm 40,43%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 2,6%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí ước giảm 2,37%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước tăng 22,14%.
Nguyên nhân chỉ số IIP tháng 02/2026 tăng so với cùng tháng năm trước là do Bắc Ninh hiện vẫn đang là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước với việc đi đầu cả nước trong cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển chính quyền điện tử và chuyển đổi số,...; các KCN đóng vai trò then chốt trong kinh tế của tỉnh với việc thu hút vốn đầu tư lớn, tạo việc làm cho người lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; bên cạnh đó, các tập đoàn lớn về sản xuất linh kiện điện tử vẫn tiếp tục duy trì sản xuất ổn định, đồng thời mở rộng nhà xưởng, củng cố vị thế của ngành sản xuất này cũng như của tỉnh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cộng dồn 02 tháng đầu năm, chỉ số IIP ước tăng 20,95%, trong đó: Công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng lớn tiếp tục giữ vững vai trò quan trọng với mức tăng 21,03%; khai khoáng giảm 2,49%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,91%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 30,88%.
Chi tiết theo ngành kinh tế cấp 2, có nhiều ngành có mức tăng so với cùng tháng năm trước, một số ngành có mức tăng cao như: Sản xuất phương tiện vận tải khác, tăng 17%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 16,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 16%; sản xuất kim loại tăng 8,47%. Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số IIP giảm do còn gặp nhiều khó khăn như: Khai thác than cứng và than non ước giảm 40,43%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan ước giảm 61,99%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế ước giảm 24,45%.
Về sản phẩm:
Một số sản phẩm chủ lực của tỉnh có mức tăng cao trong tháng 02/2026 so với cùng tháng năm trước như: Bia đóng chai ước đạt 635 nghìn lít, tăng 74,3%; hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu ước đạt 257,8 nghìn m2 , tăng 44,3%; amoniac dạng khan ước đạt 2 nghìn tấn, tăng gấp gần 6,8 lần; dược phẩm khác có chứa vitamin và các sản phẩm của vitamin và tiền vitamin ước đạt 45 tấn, tăng 32,1%; dây đồng ước đạt 1,3 nghìn tấn, tăng 42,3%; máy tính xách tay, kể cả notebook và subnotebook ước đạt 993,3 nghìn cái, tăng 23,1%; thiết bị ngoại vi nhập, xuất khác ước đạt 68,9 triệu cái, tăng 57,3%; đồng hồ thông minh có giá từ 3 đến < 6 triệu ước đạt 1.229,9 nghìn cái, tăng 15,2%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm có chỉ số giảm nhiều như: Than đá (than cứng) các loại ước đạt 36,3 nghìn tấn, giảm 40,4%; máy in-copy, in bằng công nghệ in phun có thể kết nối với máy xử lý dữ liệu tự động hoặc kết nối mạng ước đạt 356,9 nghìn cái, giảm 41,8%; điện thoại thông minh có giá từ 6 đến < 10 triệu ước đạt 410,2 nghìn cái, giảm 38,3%.
Về chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp:
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/02/2026, tăng 1,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,05% so với cùng thời điểm năm trước. Theo loại hình doanh nghiệp, lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước so với các gốc so sánh cùng thời điểm tháng trước và cùng thời điểm năm trước lần lượt là giảm 0,04% và giảm 6,8%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 8,12% và tăng 6,71%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,37% và tăng 14,65%. Theo ngành công nghiệp cấp 1, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,15% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 3,05% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,22% và tăng 13,48%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giữ nguyên nhưng giảm 2,86%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giữ nguyên nhưng giảm 14,75%.
Thời gian tới Bắc Ninh tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp. Hiện nay, tỉnh đã thành lập các tổ công tác hỗ trợ mở rộng đầu tư của các doanh nghiệp, tập đoàn lớn nhằm sớm đưa dự án vào hoạt động. Cùng đó, tiếp tục rà soát, nắm bắt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn liên quan đến lĩnh vực doanh nghiệp.