Hiện nay, công nghiệp vẫn là ngành chủ lực trong phát triển kinh tế - xã hội của Bắc Ninh. Từ đầu tháng 7, tỉnh đã thu hút được 34,2 triệu USD vốn đầu tư quy đổi, trong đó cấp mới 12 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 33,1 triệu USD, điều chỉnh bổ sung vốn đối với 02 dự án FDI với tổng vốn tăng là 1,1 triệu USD. Luỹ kế 7 tháng, đã thu hút được 13,63 tỷ USD vốn đầu tư quy đổi. Trong đó, cấp mới 150 dự án đầu tư trong nước (DDI) với tổng vốn đăng ký đạt 245.362,39 tỷ đồng, điều chỉnh tăng vốn cho 134 dự án DDI với tổng vốn đăng ký bổ sung đạt 8.157,53 tỷ đồng; cấp mới 237 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký đạt 1.096,9 triệu USD, điều chỉnh tăng vốn đối với 155 dự án FDI với tổng vốn bổ sung đạt 2.512,2 triệu USD.
Trong tháng, đã cấp mới đăng ký doanh nghiệp cho 318 doanh nghiệp và 3 Chi nhánh, Văn phòng đại diện, 73 Địa điểm kinh doanh với tổng vốn đăng ký là 4.890 tỷ đồng; tạm ngừng 169 doanh nghiệp, giải thể 54 doanh nghiệp. Lũy kế từ đầu năm đến 23/7/2025: Cấp mới 4.074 doanh nghiệp và 297 chi nhánh, văn phòng đại diện và 1.685 địa điểm kinh doanh. Vốn đăng ký là 46.812 tỷ đồng. Tháng 7 ghi nhận 623 doanh nghiệp giải thể và 2.451 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động.
Về chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), tháng 7, chỉ số IIP duy trì đà tăng trưởng và đạt mức tăng 2 con số (tăng 12,64%) so với tháng cùng kỳ. Đáng chú ý là ngành công nghiệp trọng điểm của tỉnh là Ngành 26 (Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học) có mức tăng cao hơn mức tăng chung (tăng 17,37%). Cụ thể:
So với tháng trước, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp ước giảm 1,85%, trong đó: Ngành khai khoáng ước giảm 19,27%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 1,83%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí ước giảm 2,16%; riêng ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước tăng 4,24%. Nguyên nhân chính đẩy chỉ số IIP giảm so với tháng trước đến từ ngành công nghiệp chế biến chế tạo do các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất để xuất khẩu vào thị trường Mỹ, trước khi Mỹ chính thức áp thuế nhập khẩu mới (Chính quyền Mỹ dự kiến ban đầu áp thuế vào ngày 9/7).
So với tháng cùng kỳ, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp tăng 12,64%, trong đó: ngành khai khoáng ước tăng 0,27%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 12,73%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí ước tăng 1,73%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước tăng 20,93%.
Nguyên nhân chỉ số IIP tháng 7 tăng so với tháng cùng kỳ là do Bắc Ninh hiện vẫn đang là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là các dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thuộc các khu công nghiệp Quang Châu, Vân Trung, Song Khê Nội Hoàng, Quế Võ 2. Trong đó, ngành trọng điểm là Ngành 26 chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng khá; các doanh nghiệp thuộc tập đoàn Hồng Hải và Luxshare, Samsung tiếp tục duy trì sản xuất, mở rộng nhà xưởng đóng góp chính cho tăng trưởng của ngành này.
Tính chung 7 tháng, chỉ số IIP ước tăng 16,47%; trong đó: công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng lớn tiếp tục giữ vững vai trò quan trọng với mức tăng 16,66%; khai khoáng giảm 9,44%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,57%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 18,42%.
Chi tiết theo ngành kinh tế cấp 2, một số ngành có mức tăng cao so với cùng kỳ như: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 31,29%; sản xuất trang phục tăng 17,82%; sản xuất kim loại tăng 13,22%. Ở chiều ngược lại, nhiều ngành có chỉ số IIP giảm do còn gặp nhiều khó khăn như: Sản xuất than cứng và than non ước giảm 9,44% do từ tháng 7/2024 Công ty than 45 hết hạn giấy phép khai thác lộ thiên chỉ khai thác hầm lò nên sản lượng giảm; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan ước giảm 32,99%; sản xuất thiết bị điện ước giảm 49,73% chủ yếu do các công ty sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời bị giảm đơn hàng từ đầu năm 2024 do cung đang dư thừa, cùng với chính sách thuế quan của Mỹ lên các sản phẩm của các công ty Trung Quốc và một số nước khác đang ở mức cao, nên các công ty trong tỉnh tạm dừng hoạt động do không ký được hợp đồng mới, chỉ tiêu thụ sản phẩm còn tồn kho; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 7,47% do một số doanh nghiệp không đảm bảo môi trường trong quá trình sản xuất nên bị đình chỉ hoạt động.
Về sản phẩm: Một số sản phẩm chủ lực của tỉnh có mức tăng cao trong 7 tháng đầu năm so với cùng kỳ có thể kể đến như: Bia đóng chai ước đạt 2.996 nghìn lít, tăng 22,8%; ure ước đạt 263,4 nghìn tấn, tăng 24,4%; mạch tích hợp điện tử ước đạt 326,7 triệu chiếc, tăng 30,3%; máy tính xách tay, kể cả notebook và subnotebook ước đạt 7.474 nghìn cái, tăng gấp hơn 3,5 lần; điện thoại thông minh có giá >10 triệu ước đạt 8,5 triệu cái, tăng 32,2%; đồng hồ thông minh có giá từ 3 đến < 6 triệu ước đạt 9,6 triệu cái, tăng 22,9%; máy thu đổi và truyền hoặc tái tạo âm thanh, hình ảnh ước đạt 112,5 triệu cái, tăng gấp 2,2 lần. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm có chỉ số giảm như: Than đá các loại ước đạt 507,2 nghìn tấn, giảm 9,4%; các sản phẩm bằng da ước đạt 25,9 nghìn cái, giảm 33%; amonica dạng khan ước đạt 2.610 tấn, giảm 65,5%; giấy và bìa khác ước đạt 185,2 nghìn tấn, giảm 35,9%; dược phẩm khác có chứa vitamin ước đạt 289,8 tấn, giảm 37%; pin khác ước đạt 84,2 triệu viên, giảm 61,8%; các loại ắc quy điện khác chưa được phân vào đâu ước đạt 4,8 tỷ kwh, giảm 28,7%.
Về chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/7/2025 tăng 1,23% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 7,3% so với cùng thời điểm năm trước. Theo loại hình doanh nghiệp, lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước so với các gốc so sánh cùng thời điểm tháng trước và cùng thời điểm năm trước lần lượt là giảm 0,03% và giảm 2,18%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,41% và tăng 8,15%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,16% và tăng 3,04%. Theo ngành công nghiệp cấp 1, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,43% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 5,03% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,26% và tăng 7,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,1% và tăng 4,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,35% và tăng 1,74%.